Cội nguồn

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH TRÚC THIỀN TRÀ

Từ đất Phật Tích đến Thái Thượng Trà -

Bà Trương Thị Huệ, người dân tộc Sán Dìu, làm đến Chủ tịch, Bí thư huyện Đại Từ, về tỉnh giữ chức vụ Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Thái Nguyên rồi nghỉ hưu vẫn trăn trở nhiều điều, trong đó có những địa chỉ thiêng liêng còn ít người được biết nơi sườn Đông dãy Tam Đảo quê bà. Và tôi, nhân những ngày nghỉ đã có dịp tìm về những địa chỉ thiêng ấy.

Từng nghiên cứu về địa lý và lịch sử vùng đất này, lại được đọc các tài liệu ít nhiều nói về ngôi chùa Tây Thiên Trúc 500 năm tuổi và Di tích lịch sử nơi thành lập Trung đội Giải phóng quân Phạm Hồng Thái 75 năm trước nên tôi háo hức tìm hiểu… Dãy Tam Đảo điệp trùng có điểm xuất phát từ núi Hồng, xuôi dần và kết thúc ở khu vực Phổ Yên (Thái Nguyên), Sóc Sơn (Hà Nội). Ba ngọn núi cao nhất trong dãy có chóp đỉnh 1.143m; sườn phía Tây thuộc Tuyên Quang, Vĩnh Phúc còn sườn Đông chủ yếu thuộc Thái Nguyên, dài ngót trăm cây số.

Đất, rừng Tam Đảo nằm sâu trong nội địa, cùng với dãy Tản Viên (Ba Vì) cung cấp nguồn nước và sinh khí cho kinh thành Thăng Long và đồng bằng châu thổ sông Hồng nên mấy nghìn năm qua luôn được bảo vệ. 500 năm trước, nhà Mạc buộc phải rút chạy khỏi kinh thành Thăng Long lên vùng núi phía Bắc lập căn cứ đã dựa vào sườn Đông Tam Đảo với núi cao, vực sâu, rừng rậm, lập ấp, xây chùa, thiền viện đáp ứng nhu cầu đời sống tâm linh của nhân dân.

Cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp của Hoàng Hoa Thám tại Yên Thế (Bắc Giang) kéo dài 30 năm, khi thất bại, Đề Thám cũng lấy Tam Đảo làm cứ; Trịnh Văn Cấn (Đội Cấn) cùng Lương Ngọc Quyến dấy binh chống Pháp đêm 31/8/1917, không trụ được trước sự phản công của Pháp đã lấy sườn Đông Tam Đảo kháng Pháp suốt 6 tháng, rồi Đội Cấn mới hy sinh tại núi Pháo…

… Chúng tôi theo tỉnh lộ 261 từ thị trấn Ba Hàng (T.X Phổ Yên) men theo chân Tam Đảo mà ngược lên. Đường còn hẹp nhưng dễ đi; làng quê yên bình, trù phú… Nắng Thu như dát vàng trên những đồng lúa, nương chè. Tam Đảo sừng sững, xanh thẳm mầu xanh của rừng nguyên sinh thuộc Vườn Quốc gia Tam Đảo. Trong kháng chiến chống Pháp, đây là con đường nhộn nhịp, bộ đội, dân công, cán bộ từ mọi miền qua Đèo Nhe men theo dãy núi mà lên với ATK trên Định Hóa, Sơn Dương, Chiêm Hóa…

Nơi thành lập Trung đội Giải phóng quân Phạm Hồng Thái

Qua trung tâm xã Quân Chu (Đại Từ) không xa, rẽ trái là tới xóm Hòa Bình, bắt đầu leo lên sườn Đông Tam Đảo. Lên độ cao chừng 300m là tới Nhà bia di tích Địa điểm nơi thành lập Đội Cứu quốc quân Phạm Hồng Thái. Lịch sử còn nhắc: Từ năm 1940, phong trào cách mạng đã phát triển sang một giai đoạn mới. Ngày 15/9/1941, Trung đội Cứu quốc quân  (CQQ) được thành lập tại rừng Khuôn Mánh,Tràng Xá (Võ Nhai), ngay sau đó đã lập nhiều chiến công và lớn mạnh nhanh chóng tại vùng Bắc Sơn – Võ Nhai. Ngày 22/12/1944, Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân (VNTTGPQ) được thành lập tại Nguyên Bình, Cao Bằng và nhanh chóng Nam tiến. Ngày 15/5/1945, tại đình làng Quặng, xã Định Biên huyện Định Hóa, đã diễn ra Lễ thành lập Việt Nam Giải phóng quân (VNGPQ) trên cơ sở thống nhất lực lượng CQQ và VNTTGPQ. Còn Trung đội Giải phóng quân Phạm Hồng Thái hoạt động ở vùng Tam Đảo?

Năm 1940, gia đình ông Thạch Sơn (Nguyễn Huy Minh), dưới chân núi lên đây lập ấp, mở lò đốt than, địa danh Lán Than ra đời từ đó. Đến năm 1943 ông Minh lập Đội tự vệ Tam Đảo. Tháng 8-1944, Đội đã có hơn chục chiến sĩ, có vũ trang và hoạt động trên một vùng rộng lớn thuộc Đại Từ, Phổ Yên và vùng sườn Tây Tam Đảo thuộc tỉnh Vĩnh Yên (Vĩnh Phúc ngày nay). Theo chỉ đạo của Trung ương, Chỉ huy Đội Cứu quân Hoàng Hoa Thám, Chu Văn Tấn đã về Tam Đảo kiểm tra hoạt động và công nhận Đội tự vệ Tam Đảo, Quân Chu là tổ chức cách mạng. Tháng 4-1945, Đồng chí Chu Văn Tấn, Nhị Quý (Bí thư Tỉnh ủy Thái Nguyên đầu tiên) và Lê Trung Đình (Chủ tịch Chính quyền cách mạng Thái Nguyên sau này) về đây, sáp nhập thêm các đội tự vệ nhỏ lẻ thành lập Đội du kích Cao Sơn, sau đổi thành Trung đội Giải phóng quân Phạm Hồng Thái, đồng chí Huy Minh làm trung đội trưởng và Vũ Tuân làm chính trị viên…

Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Đồng chí Võ Nguyên Giáp, Chu Văn Tấn, trung đội đã thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền, vận động nhân dân xây dựng cơ sở Việt Minh ở Đại Từ, Phổ Yên, Đồng Hỷ (Thái Nguyên), Tam Đảo (Vĩnh Yên); chiến đấu chống Nhật, Pháp, trừ gian, diệt phỉ bảo vệ nhân dân; giữ vững đường dây liên lạc từ miền xuôi lên Căn cứ địa Tân Trào, Định Hóa; tham gia đuổi Nhật giành chính quyền tại tỉnh lỵ Thái Nguyên ngày 20/8/1945… Ông Vũ Xuân Thuận, ở xóm Đền, năm nay vào tuổi 85, sau khi kể về Đội Giải phóng quân Phạm Hồng Thái đã tâm sự: Những năm ấy nơi này hoang vu rậm rạp, chỉ một ít người dân tộc Trại, Tày sinh sống men sườn núi chạy dài cả trăm cây số. Các chiến sĩ chiến đấu dũng cảm, lập nhiều chiến công, rồi sau đó lại đi kháng chiến… Mãi năm 2006, tỉnh, huyện mới về dựng bia di tích lịch sử này… Còn tôi (người viết bài này) bây giờ, 75 năm sau mới có cơ duyên biết rõ hơn nơi này cũng tự hỏi: Phải chăng đây là một trong những góc khuất của lịch sử?

Tây Thiên Trúc – dấu ấn thời gian

Võ tướng Mạc Đăng Dung giành ngôi từ Lê Cung Hoàng (Hậu Lê) tháng 6 năm 1527, nhưng chỉ tồn tại 50 năm (1527-1677), trong đó nhiều năm lập cứ ở các tỉnh miền núi, ngoài xây thành, đắp lũy, thời Mạc là giai đoạn phát triển giáo dục, giao thương, văn hóa, dựng nhiều ngôi chùa, chủ đạo trong tu hành là Thiền phái Trúc Lâm.

Ông Vũ Xuân Thuận, Chủ nhang tại chùa Tây Thiên Trúc (Hướng về đất Phật Ấn Độ và Thiền phái Trúc Lâm của Phật hoàng Trần Nhân Tông) này đã 40 năm có lẻ. Ông bảo: Căn cứ Lán Than của Trung đội Giải phóng quân Phạm Hồng Thái nương náu chủ yếu tại ngôi chùa cổ. Ông nghe nói Tây Thiên Trúc có từ thời Nhà Mạc, 40 năm trước, thấy ngôi chùa nằm giữa rừng này xuống cấp, có nguy cơ hoang phế mới lên tự nguyện làm Chủ nhang bảo vệ và tu bổ. Giờ ông tuổi đã cao nên giao việc ấy cho vợ chồng con trai là Vũ Hải Nam và Bàn Thị Hạnh trông nom, hương khói. Người dân và phật tử lên thăm di tích lịch sử cũng là vãn cảnh chùa và ngược lại. Hiểu giá trị của di tích lịch sử cách mạng, biết ngôi chùa báu nằm trong cụm chùa Tam Đảo, từ năm 2014, được sự cung thỉnh của các cấp chính quyền, đoàn thể và phật tử, Hòa thượng Thích Kiến Nguyệt đã đề nghị và được Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Thái Nguyên và huyện Đại Từ lập dự án tôn tạo chùa, xây dựng Thiền viện Trúc lâm Tây Trúc.

Nghỉ hưu từ doanh nghiệp Chè Quân Chu, xuất gia lên núi được giao làm Chi khách (Như Tổ chức-hành chính), Thầy Thích Thiên Phúc Kể: – Thiền viện bắt đầu được xây dựng cách đây 4 năm, riêng năm 2019, Thiền viện tổ chức 3 lớp truyền giảng giáo lý đạo Phật với 1.000 người tham gia. Đạo lý nhà Phật, giáo lý Thiền phái Trúc lâm  cơ bản gần gũi đời sống hàng ngày…
Còn Đại đức Thích Huệ Chương cũng cho rằng: – Với điều kiện hiện tại, Thiền viện có thể đáp ứng nhu cầu tu tập lớn hơn của nhân dân. Và chính việc xây dựng thiền viện tại nơi này đã trực tiếp giúp cho việc bảo vệ rừng và hệ sinh thái đa dạnh của Tam Đảo tốt hơn.

Chúng tôi lên Thiền viện Trúc lâm Tây Trúc có may mắn được gặp Hòa thượng Thích Kiến Nguyệt từ Thiền viện Tây Thiên bên sườn Tây sang. Sinh ra từ Vĩnh Long sông nước, nhưng mấy chục năm qua Hòa thượng bỏ sức nghiên cứu về rừng, xây dựng nhiều thiền viện trên rừng. Hòa thượng hiểu về Tây Thiên Trúc của Quân Chu Đại Từ từ lịch sử, địa lý đến văn hóa, tâm linh và mặc dù tuổi đã cao, sống cần kiệm Hòa thượng vẫn mong được thấy nơi bồng lai này là chốn đi về của muôn người. Từ trên sân Thiền viện, sau lưng là vách núi cao, đỉnh có cột phát sóng Tam Đảo, dưới chân núi là làng mạc Ký Phú, Văn Yên Mỹ Yên, xa nữa là vùng Hồ Núi Cốc, Hòa thượng khẽ khàng:

– Xưa, du kích vượt núi qua lại vận động dân theo cách mạng, thậm chí còn sang đánh đồn Nhật bên Tam Đảo giải phóng tù nhân. Bây giờ ai đó có điều kiện khoan một đường hầm xuyên núi, nối hai sườn Đông – Tây…? Rồi chợt hỏi: – Giáo lý nào của Thiền phái Trúc lâm mà nhà báo tâm đắc?

Tôi thưa Hòa thượng: – Phật hoàng Trần Nhân Tông có bài kệ dạy rằng: Cư trần, lạc đạo thả tùy duyên / Cư túc sang hề, khốn tắc miên / Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch / Đoái cảnh vô tâm mạc vấn thiền (Sống ở trên đời mỗi người một duyên / Sống giàu, sống nghèo theo tự thức / Vàng bạc, tiền của ngay trong lòng ta, nhà ta, không phải tìm / Nhưng thấy hoạn nạn mà không động lòng trắc ẩn thì đừng hỏi Phật làm gì? 

NỀN TẢNG CỦA THÁI THƯỢNG TRÀ

Mối lương duyên giữa TRÀ CHAY - ĐẤT TÍCH PHẬT - THIỀN TÔNG TRÚC LÂM YÊN TỬ

Dự án : Trà Thất Việt Nam : Trúc Thiền Trà

Đầu Xuân 2025, cơ duyên giữa trà và thiền được tác ý tại Thiền Viện Trúc Lâm Tây Trúc . Từ đây Vườn Mầm Đá – Tây Trúc được thành lập để tiếp tục sự nghiệp trồng và chăm sóc trà thuần thực vật, thuật tự nhiên trên vùng Phật Tích.

 

GIÁ TRỊ CỐT LÕI - CORE VALUES

Đảm bảo chất lượng tới từng lá trà

Bảo đảm chất lượng Trà là khi tất cả mọi người, mọi lúc, đều có thể tiếp cận về mặt vật lý, xã hội và kinh tế với trà , an toàn và bổ dưỡng đáp ứng nhu cầu ăn uống và sở thích về trà của người sử dụng để có một cuộc sống năng động và khỏe mạnh.

Bốn trụ cột của an ninh lương thực là:

  1. Tính sẵn có
  2. Khả năng tiếp cận
  3. Tính ổn định
  4. Hướng dẫn sử dụng

Trong đó, đảm bảo tính ổn định về  giá trị  dinh dưỡng là một phần không thể thiếu của khái niệm bảo đảm chất lượng của Trà. Không thể có trà ngon, nếu cây trà bị căng thẳng và cho ra những lá trà chất lượng thấp !

  • Không sử dụng phân bón có nguồn gốc động vật
  • Không sử dụng chất hoá học và chất vô cơ nhân tạo
  • Không sử dụng nước tưới chưa được làm sạch
  • Không kích thích tăng trưởng để tăng sản lượng

  • Tận dụng đa đạng sinh học để phòng bệnh cho cây
  • Tạo điều kiện để hấp dẫn thiên địch
  • Thay đổi quy trình chăm sóc theo mùa bản địa
  • Sử dụng tối đa nguồn nguyên nhiên liệu tại chỗ đảm bảo chất lượng đầu vào cho canh tác hữu cơ thuần thực vật

  • Chăm sóc trên cơ sở hiểu biết rõ ràng về nhu cầu dinh dưỡng toàn diện
  • Thiết lập sự cân bằng dinh dưỡng và độ phì của đất
  • Thiết lập các quy tắc ứng xử tại vùng trồng để bảo vệ sự cân bằng về tính vị và hướng đến tăng trưởng chất lượng và sự tinh khiết
  • Liên tục nâng cao vai trò kiểm tra tự đánh giá để hoàn thiện chất lượng sản phẩm và ứng dụng

  • Áp dụng các kinh nghiệm, tri thức, trí tuệ cổ xưa vào tình hình hiện tại
  • Ứng xử với cây trà như một cây Nam Dược có tính phổ biết cao, dễ trồng và dễ tiếp cận cho mọi người.
  • Ứng dụng tư duy chánh niệm của Đạo Bụt vào nông nghiệp để tạo ra sản phẩm mang giá trị độc đáo về văn hoá có lợi ích sức khoẻ thân tâm của người Việt Nam

SỨ MỆNH - MISSION

Sử dụng triết lý Lục Hoà để triển khai hành thiền trong trồng và chăm sóc trà.

 

  • Tối giản hệ thống, tập trung vào chất lượng để tìm kiếm những giá trị vượt trên giá trị dinh dưỡng của trà.
  • Học hỏi và khám phá từ hành trình cho đi, chứ không phải nhận về
  • Quan điểm về phương tiện liên quan đến kết quả , hành động tốt dẫn đến kết quả tốt (nhân quả)
  • Tiếp cận toàn diện và cấu trúc chi phí , nguồn lực theo quan điểm tổng thể ( chi phí toàn diện)
  • Triết lý cùng thắng win -win
  • Hành động có lợi ích tốt đẹp cho các sinh vật khác

Giống Trà

Tìm hiểu thêm

Quy tình chăm sóc

Tìm hiểu thêm

Công phu - chế biến

Tìm hiểu thêm

ĐỘI NGŨ - PEOPLE

Dược Trà Việt Nam, cho người Việt Nam

Hành trình làm trà chay có cùng mục tiêu với hành trình tìm đến những giá trị cốt lõi của vạn vật.

Từ góc nhìn này, chúng tôi đã tập hợp đội ngũ những người liên quan đến cây trà , tổ chức học hỏi, thực hành trồng , chăm sóc và chế biến để tìm kiếm những giá trị nằm trong tự tính, tự vị của những loại trà bản địa còn nằm trong tâm thức của người Việt khắp các vùng miền trong cả nước.

Nhà khoa học

Nhà văn hóa & giáo dục & nghệ thuật

Nông dân & nghệ nhân

Nhà khởi nghiệp & quản trị

KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ - TRÍ TUỆ - CHÁNH NIỆM

Sự kết hợp của CHÁNH NIỆM và phương pháp Giáo Dục STEAM

Khoa học
Science

Nghiên cứu thổ nhưỡng và sinh học cây trà: Phân tích thành phần đất, độ pH, vi sinh vật để cải thiện môi trường trồng trà.

Kiểm soát dịch hại tự nhiên: Sử dụng biện pháp sinh học thay vì hóa chất để bảo vệ cây trà khỏi sâu bệnh.

Khí hậu và sinh trưởng: Ứng dụng kiến thức về nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa để trồng trà đúng vùng và đúng mùa.

Vấn đáp

Giải đáp những câu hỏi thường gặp về Trà Chay.

Theo trí tuệ cổ xưa, vạn vật là bình đẳng và có quan hệ tương tức với nhau. Tương tức là một vế của cặp khái niệm tương tức-tương nhập thể hiện giáo nghĩa “nhất tức nhất thiết, nhất thiết tức nhất” hay “một là tất cả, tất cả là một” được triển khai trong kinh Hoa Nghiêm, nói lên điều Đức Phật dạy, “cái này có vì cái kia có, cái này sinh vì cái kia sinh” trong giáo lý Duyên khởi.

Từ góc nhìn này, Trà Chay là thành quả của “tương tức”, là biểu tượng của quẻ 63 trong Kinh Dịch (Thuỷ Hoả Ký Tế).

Mỗi lá trà là thanh khí đất trời được thành tạo trong “ngũ hành tương sinh”, dệt lên hương vị bản địa bằng công phu thành phiến và lòng biết ơn của người nông dân trông trà. Phẩm trà này là sự thật “dĩ thành” trong quan hệ “tương tức” của thiên, địa, nhân và cây trà. Là “Càn Vi Thiên” của vùng trà Trung Du – Gốc Gạo.

Nước đựng trong ấm, để trên ngọn lửa (tượng quẻ Ký Tế), sinh hơi nước bốc lên thành một khí lực mạnh. Khi nấu nước nhiều lửa, nước sẽ tràn ra, có thể dập tắt cả lửa, khí lực của nước từ đó mất đi. Nếu để nước quá lửa, nước sôi nhưng không tràn, hơi nước dần sẽ bay đi hết. Đây là sự tương tác giữa 2 yếu tố đối nghịch, tương khắc. Trà Chay là tinh cốt của mộc, được dĩ thành trong thiền định. Là kiệt phẩm công phu thực hành trung đạo trong đối nghịch. Lá trà làm ra theo cách này có hương thơm tinh khiết, tính vị quân bình, trà khí mạnh mẽ.

Thực tập chánh niệm và nhìn sâu vào bản chất của sự vật để khám phá được thực tướng của sự vật, thực tướng đó chính là tính tương tức. Thấy được tính tương tức trong mọi sự vật, ta mới có được sự bình an, từ đó mới có đủ sức mạnh để đương đầu với mọi thứ. Với tuệ giác này, ta sẽ thực hiện dễ dàng công trình thương yêu và bảo vệ lâu dài cho trái đất cũng như cho mọi người mọi loài sống trên trái đất.

Kinh dịch (經易) là một trong những cổ thư kinh điển của văn hóa Trung Hoa, nằm trong Ngũ Kinh của Nho giáo (Kinh dịch, Kinh Thi, Kinh Lễ, Kinh Thư và Kinh Xuân Thu). “Kinh” là sách vở, hàm ý chỉ những giá trị khuôn mẫu. “Dịch” là dịch chuyển, ý nghĩa sâu xa hơn là sự biến đổi, thay đổi. Cốt lõi của Kinh dịch là sự biến đổi không ngừng của vạn vật trong vũ trụ. Đây được xem là nền tảng của triết học và văn hóa phương Đông.

Quẻ kinh dịch

Quẻ Kinh Dịch là các biểu tượng được sử dụng để dự đoán, lý giải các tình huống, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và cuộc sống con người. Mỗi quẻ Kinh Dịch có một cấu trúc riêng biệt và mang những ý nghĩa khác nhau.

Cám ơn là chỉ đơn thuần là ý thức hay nhận thức được hành động của người khác. Vì vậy, những lời “cảm ơn bạn” và “cảm ơn” mang nghĩa nhẹ hơn. Chúng ta lẩm bẩm lời cảm ơn từ khóe miệng khi có ai đó giữ hộ cánh cửa hoặc đưa cho chúng ta tách cà phê sáng. Thông thường, nói “cảm ơn” đơn thuần là hành vi lịch sự, và “cảm ơn” chỉ là lời đáp trả tự động mà thôi.
Biết ơn lại là một kinh nghiệm khác biệt. Biết ơn đòi buộc chúng ta trước hết phải để người khác tác động lên mình. Lòng biết ơn sau đó liên quan đến một giai đoạn phản tỉnh, có thể bằng việc suy gẫm trong tư tưởng hay bằng cách viết ra. Khi đó chúng ta cho phép mình có đủ thời gian để hiểu thấu đáo sự đánh giá cao của chúng ta dành cho một người. Lòng biết ơn đích thực diễn tả lời “cảm ơn” không chỉ từ cái miệng mà còn từ con tim. Lòng biết ơn biến một phản ứng cứng nhắc thành quy tắc có chủ đích.
Không giống việc cám ơn, lòng biết ơn là một thực hành có chủ đích.