Trúc Thiền Trà
Quay về nguồn xưa, phát minh bản địa
Tea Waver

Quay về nguồn xưa, phát minh bản địa

Trong khi khoa học phát triển nhanh như ngày nay, người ta vẫn xác nhận rằng,  một số loài cây ngay bên cạnh con người , một số thứ vốn gần gũi nhưng con người còn đang chưa hiểu biết tường tận vè chúng. Trong những thứ đó có cây chè và sản phẩm từ cây chè gọi là Trà .

Các hợp chất hoạt tính sinh học chính của trà xanh bao gồm polyphenol, ancaloit, polysaccharide, axit amin, hương thơm và các thành phần dễ bay hơi, tất cả đều có khả năng chịu trách nhiệm cho các hoạt động của trà. Cho đến nay, polyphenol là họ lớn nhất của các chất chuyển hóa thứ cấp có trong trà xanh, chiếm 35% trọng lượng khô của nó, trong khi nhóm flavonoid như catechin chiếm 60–80% tổng số polyphenol.  Các hợp chất phenolic khác trong trà xanh bao gồm axit gallic và chlorogenic, quercetin, kaempferol và myricetin .

Thành phần hóa học chung của lá Camellia sinensis được trình bày trong hình dưới đây

Cấu trúc thành phần hoá học của Trà

 

figure 3
Tác dụng của trà

Phát minh bản địa là gì ?

Phát minh : (发明 ) Invention : là làm rõ ra cái gì đó rất trí tuệ, sáng rõ . ( nghĩa là ngộ ra chân lý – rồi làm ra một giải pháp ứng dụng)

là việc phát hiện ra các quy luật, hiện tượng và sự vật trong tự nhiên mà trước đó con người chưa biết tới

Bản địa : 原 地 ( Original place )

Là đất xưa , là nơi con người, vạn vật bắt nguồn từ đó .

Ủy ban chè quốc tế (ITC)
Giới thiệu các tổ chức

Ủy ban chè quốc tế (ITC)

Ủy ban trà quốc tế (ITC) là kết quả của các cuộc đàm phán này và được thành lập vào năm 1933 bởi đại diện của những người trồng trà ở Ấn Độ, Ceylon (Sri Lanka) và Đông Ấn Hà Lan (Indonesia) để quản lý Chương trình quản lý theo các điều khoản của Hiệp định trà quốc tế, được ký kết vào ngày 9 tháng 2 năm 1933, với sự chấp thuận và hỗ trợ của Chính phủ của mỗi quốc gia trong ba quốc gia tham gia. Ngoài chức năng là người quản lý chương trình quản lý, ITC còn thu thập và biên soạn số liệu thống kê và thông tin liên quan đến sản xuất, xuất khẩu, tiêu thụ và dự trữ trà ở các quốc gia sản xuất cũng như ở tất cả các quốc gia khác.

 

Chương trình này được thực hiện cho đến ngày 31 tháng 3 năm 1955 và sau đó không được gia hạn, nhưng một thỏa thuận đã đạt được giữa chính phủ các nước tham gia để Ủy ban trà quốc tế tiếp tục hoạt động như một trung tâm thu thập và công bố số liệu thống kê và thông tin khác liên quan đến trà.

Năm 1979, tư cách thành viên đầy đủ của ITC đã được mở rộng để bao gồm các quốc gia tiêu dùng và sau đó, các danh mục mới dành cho các thành viên liên kết và công ty đã được giới thiệu. Năm 1986, ITC đã trở thành một công ty trách nhiệm hữu hạn.

 

Ủy ban trà quốc tế đã cung cấp cho ngành công nghiệp trà thông tin thống kê có giá trị trong hơn 80 năm và được nhiều quốc gia sản xuất và tiêu dùng trà lớn trên thế giới hỗ trợ. Chúng tôi đặt mục tiêu tiếp tục tạo ra dữ liệu kịp thời, chính xác, khách quan và vẫn là nguồn thông tin xác thực cho ngành công nghiệp (more…)

Trà là công cụ để quay vào bên trong
Tea Waver

Trà là công cụ để quay vào bên trong

Trong bối cảnh của nền kinh tế và môi trường sống hiện nay, xuất hiện nhiều hơn những cá nhân cô đơn. Tính chất của sự cô đơn này đang có xu hướng tiêu cực, dẫn đến những rối loạn bên trong.  Các con sô thống kê từ WHO cho thấy xu hướng người có vấn đề rồi loạn tâm lý và sức khoẻ tâm thần đang tăng lên và trẻ hoá. Người ta đi đến nhận định rằng, thế kỷ 21 là thế kỷ Chữa Lành !

Cây trà 50 năm tuổi và chiếc cối đá 50 năm tuổi
Cây trà 50 năm tuổi và chiếc cối đá 50 năm tuổi

Thử đứng ra khỏi bối cảnh đó, nhìn nhận thế giới như một thực thể có trí tuệ, ta có thể nhìn thấy sự hỗn độn nào đó đang xảy ra trên khắp thế giới , lại có nguyên nhân từ chính sự thông minh của mỗi cá nhân. Ở đâu đó trong mắt xích của rối loạn, người ta thấy có ứng dụng của Khoa Học mũi nhọn. Tính xác tín của mọi sản phẩm khoa học, công nghệ và kỹ thuật mới bắt đầu tạo ra những sự tranh cãi lớn về tính nhân văn và tính hiệu quả xét về tổng thể. Về mặt toán học, thế giới có vẻ đang bị những thách thức không cần thiết cho sự sinh tồn, và dành quá ít thời gian vào mục tiêu nâng cấp để tiến hoá.

Có một câu hỏi đặt ra là : con người về mặt thiết kế đã là một thực thể phức tạp vào bậc nhất, lại đang Cần và Thiếu  rất nhiều hướng dẫn cho chính mình về cách sử dụng những năng lực của chính mình, để tạo dựng một đời sống hạnh phúc.Vậy tại sao chúng ta có vẻ không thực sự thích thú đầu tư vào việc tìm hiểu sổ tay kỹ thuật của chính cỗ máy mà mỗi chúng ta đang sống nhờ trên sự làm việc bền bỉ và kỳ diệu của nó ?  Chúng ta còn rất nhiều việc phải làm, và thời gian đâu để con người đi vào sự cô đơn mang tính huỷ diệt ?  Ngay cả với vấn đề của thời gian, chính khoa học đã nhận định rằng, thời gian là một khái niệm tương đối. Hoặc hỏi cách khác, nếu thời gian là thứ có thể được làm thay đổi, thì chúng ta nên tìm kiếm dựa vào năng lực cải thiện tốc độ hay là năng lực thay đổi hệ quy chiếu ?

Nếu cô đơn là trạng thái tuyệt đối tốt lành cho sự tìm kiếm tiến hoá, thì cô đơn này hoàn toàn khác với cảm giác về sự cô đơn mà con người đang nếm trải ngày một phổ biến hơn, trong chính ngôi nhà đẹp đẽ của mình.

Mối quan hệ giữa Trà và Đạo

Đứng ở góc nhìn của Đạo, trà là một tư tưởng, là công cụ triết học , tự bản thân trà có những ứng dụng tương tự như Thiền. Hoặc ít nhất Trà có gì đó giống Thiền, vì thế nghề trồng , chế biến Trà không thể được giải thích hoặc mô tả một cách toàn diện, mà nó như một trải nghiệm trong đó tâm trí và tất cả các suy nghĩ logic (bao gồm cả ngôn ngữ) được siêu thoát. Khi thiết lập được cách tiếp xúc và chăm sóc Trà, để Trà biểu hiện ra cái tự tính tự vị thì con người ấy cũng có nhiều manh mối để tìm được đường trở về với bản chất gốc của chính mình . Vì thế cùng với Thiền, Trà đã đi vào trong đời sống của con người, đặc biệt những hành giả và những con người dành nhiều tâm ý cho việc tìm kiếm những con đường giải thoát, trà đã trở thành người đồng hành chung thuỷ của người nhìn vào bên trong, tu, sửa để tiếp xúc với hương vị của trí tuệ. Trong Đạo Bụt, Bhāvanā là tu tập và gieo trồng là "phát triển" hoặc "trồng trọt" hoặc "sản xuất" theo nghĩa "kêu gọi sự tồn tại". Đó là một khái niệm quan trọng trong thực hành Phật giáo. Trong chăm sóc và chế biến Trà, cũng có một hành trình tương tự , là tu tập và tưới tẩm vào Trà những hạt giống từ tâm ngừoi làm trà, để từ đó, là chất xúc tác để những mầm trà mọc lên nhất vị, vị ấy chính là Vị của Đạo ! Trong hành trình song tu này, Người và Trà trở nên tương tức, tính vị của trà cũng giống như tính vị của người trồng và chăm sóc Trà. Từ đây, mở ra thêm những con đường mới để từ đó tạo ra những phẩm trà độc đáo, cũng là một hành trình phát minh bản địa , mà mỗi khi tiếp xúc với trà, người ta đều có thể cảm nhận .